FIND US
Số 8,Đường Phan Bội Châu,Thành phố Vinh,Tỉnh Nghệ An,Việt Nam
Vin, Nghệ An, Vietnam
Mission
Lưu giữ - Kế tục - Phát huy truyền thống cao đẹp của ngôi trường mang tên người anh hùng dân tộc Hà Huy Tập
MORE INFO
About
THPT Hà Huy Tập và những chặng đường phát triển tự hào
categories
STORY
I. Mười năm đầu đầy gian nan thử thách (1975-1985)

1) Bối cảnh thành lập trường

Đại thắng mùa xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, mở ra kỷ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam: kỷ nguyên độc lập – thống nhất – cả nước đi lên CNXH. Lịch sử dân tộc bước sang trang sử mới, Nghệ An nói chung, Thành phố Vinh nói riêng cũng dần hồi sinh trở lại, chuyển dần t...ừ thời chiến sang thời bình. Các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp….. sau những năm sơ tán đã tụ họp về đây. Thành phố Vinh ngày một mở rộng, mật độ dân số tăng nhanh, nhu cầu học tập của con em ngày càng lớn. Thế nhưng lúc bấy giờ (1975) cả thành phố chỉ có một trường cấp 3 Huỳnh Thúc kháng (C3 Vinh I), không thể đáp ứng đủ nhu cầu học tập bậc THPT của con em trong thành phố

Đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh ác liệt, đang trong muôn vàn khó khăn, kinh phí đầu tư cho giáo dục còn quá hạn hẹp. Mặt khác với phương châm “Học đi đôi với hành”, “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, nhà trường phải làm ra sản phẩm cho xã hội. Trên miền Bắc đã xuất hiện mô hình các trường TNLĐXHCN, trường PT Công nghiệp, trường PT Nông nghiệp, trường VHVL….. là nét mới, điểm sáng trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà.

Xuất phát từ thực tiễn trên, căn cứ vào công văn số 1765 ngày 12/8/1975 của Bộ giáo dục hướng dẫn việc tổ chức các trường cấp 3 vừa học vừa lao động sản xuất

Căn cứ vào đề nghị của Ông chủ nhiệm UBKH Tỉnh, Ông Trưởng ty giáo dục, Ông chủ tịch UBHC thành phố Vinh

Chủ tịch UBHC tỉnh Nghệ An ra quyết định số 1395VX/QĐ ngày 22/12/1975 – Quyết định thành lập Trường Cấp 3 vừa học – vừa lao động sản xuất Vinh (thường gọi là C3 VH- VL Vinh). Tiền thân của Trường cấp 3 Vinh 2 nay là Trường THPT Hà Huy Tập đã ra đời trong hoàn cảnh đó.

2) Những ngày đầu trường thành lập

Năm học đầu tiên (1975-1976) của trường mới chỉ có 4 lớp với 200 học sinh, cùng 10 giáo viên và 3 nhân viên, phần lớn là những thầy cô vừa rời quân ngũ trở về dạy học

1. Thầy Đinh Quang Minh – GV Văn - Được UB Thành phố – Phòng giáo dục giao nhiệm vụ điều hành nhà trường; 2. Thầy Võ Tuấn Tài - GV Toán;3. Thầy Lê Duy Cát- GV Toán; 4. Cô Đỗ Thị Kim Yến - GV Lý; 5. Thầy Phan Anh Tứ - GV Lý; 6. Cô Trần Thị Mỹ Chinh - GV Hoá; 7. Cô Phan Thị Liên - GV Văn; 8. Cô Nguyễn Thị Hà Thanh - GV Sử; 9. Cô Nguyễn Thị Hường - GV Sinh; 10. Thầy Lê Xuân Hoà - GV Kỹ thuật; 11. Cô Trần Thị Thanh - Kế toán; 12. Cô Hồ Thị Tuỳ - Văn thư; 13. Cô Bùi Thị Hợp - Hành chính.

Đó là thế hệ thầy, cô giáo và CBVC đầu tiên của nhà trường.

Buổi sơ khai đó, trường C3VH-VL Vinh gặp không ít khó khăn, gian khổ, thời kỳ mà có thể nói là từ con số không, thời kỳ “3 nhờ”: Có tên trường nhưng chưa có địa điểm, chưa có CSVC nên phải “dạy nhờ, học nhờ” tại trường C3 Vinh I (Nay là trường bồi dưỡng chính trị của Tỉnh); chưa có trường, chưa có khu tập thể cho cán bộ giáo viên nên thầy cô phải “ở nhờ”; nơi sinh hoạt hội đồng, tổ chuyên môn phải “nhờ Hội trường”, Trường dân chính thành phố.

Văn phòng nhà trường là gian nhờ bếp sửa lại của trường dân chính (phía sau trường tiểu học Lê Mao bây giờ). Năm học 1976-1977 được chuyển lên phòng 34 tấng 5 nhà A3 – Quang Trung

Nhớ lại thời kỳ vất vả này, một thầy giáo đã viết

“Ôi cái thời không tuổi, không tên

Phòng học mượn, nơi ở ăn cũng mượn

Gian nhà bếp thành phòng Hiệu trưởng

Họp hội đồng quanh một chiễc bàn con”

(Hát về mái trường thân yêu –Nguyễn Đức Cảnh)

Chất lượng đầu vào không đồng đều, tuyển sinh sau, xét tuyển, chứ không tổ chức thi, làm sao đủ chỉ tiêu theo quyết định thành lập trường (200 em). Hầu hết là những em chưa đủ điểm vào trường Vinh I, một số em đã nghỉ học Cấp 2 từ 1-2 năm. Điều này lại là một thách thức không nhỏ cho nhà trường. Trong năm học đầu tiên, vì chưa đủ số giáo viên cho tất cả các bộ môn, nên sinh hoạt chuyên môn chỉ có 2 tổ : Tổ tự nhiên và Tổ xã hội. Mặc dầu gặp phải muôn vàn khó khăn trong những ngày đầu thành lập trường song các thầy cô, CBVC với tinh thần đoàn kết, vượt khó vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 1975-1976.

Vất vả qua đi, nhưng thuận lợi còn phải “chờ”. Năm học thứ 2 – năm học 1976-1977 trường được tuyển thêm 5 lớp 8 với 275 em, vẫn theo phương thức tự tuyển. (Lúc này cả 2 khối : 9 lớp với 475 em) vẫn chưa có địa điểm và chưa có trường, phải tíêp tục “học nhờ”

Mặc dù khó khăn còn nhiều, những tiền đề mới, những lực lượng mới nhất là công tác tổ chức cán bộ đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ của nhà trường trong những năm tiếp theo. Thầy Nguyễn Duy Hân – GV toán - Được Ty giáo dục Nghệ An điều từ Trường cấp 3 Nghi lộc I về làm Hiệu trưởng (9/1976), Cô Phan Thị Quỳnh Trang – GV Toán được điều từ Trường Cấp 3 Quỳnh Lưu 2 về làm Hiệu phó (2/1977).

Cùng về trong năm học thứ 2 (niên khoá 1976 – 1977) còn có các thầy cô: 1. Nguyễn Đình Thành- GV Toán - 10/1976, 2. Nguyễn Viết Hiền - GV Toán - 10/1976, 3. Nguyễn Đức Cảnh - GV Văn- 10/1976, 4. Nguyễn Quốc Khánh - GV Văn- 10/1976, 5. Nguyễn Sơn Tùng- GV Vật lý- 10/1976, 6. Phan Thị Vỹ- GV Hoá- 10/1976, 7. Nguyễn Thị Thu Dương- GV Hoá- 12/1976, 8. Nguyễn thị Bích Huệ- GV Sinh- 10/1976, 9. Nguyễn Sỹ Thanh- GV Sử- 10/1976, 10. Phùng Thị Minh- GV Địa- 10/1976, 11. Trần Hoa Lợi- GV Chính trị- 10/1976, 12. Nguyễn Văn Báu- GV Nga văn - 10/1976, 13. Công Thị Tường- Y sĩ- 10/1976, 14. Chu Văn Kiều - Hành chính- 12/1977.

Công tác tổ chức.

BGH nhà trường gồm có: 1. Thầy Nguyễn Duy Hân- Hiệu trưởng, 2. Cô Phan Thị Quỳnh Trang- P. Hiệu trưởng, 3. Thầy Đinh Quang Minh- p. Hiệu trưởng. Các tổ chức trong nhà trường từng bước được kiện toàn. Đại hội Chi bộ Đảng lần thứ 1 (cuối năm 1976) bầu Thầy Trần Hoa Lợi – GV chính trị làm bí thứ chi bộ đầu tiên của nhà trường. Năm 1976 Trường chỉ mới có 5 Đ/c là đảng viên : Thầy Trần Hoa Lợi, Thầy Nguyễn Duy Hân, Thầy Nguyễn Đức Cảnh, 4. Thầy Đinh Quang Minh, 5. Cô Công Thị Tường.

Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được kiện toàn. Năm học đầu tiên 1975-1976 Cô Trần Thị Mỹ Chinh được cử phụ trách công tác Đoàn của nhà trường. Tại đại hội đoàn trường lần thứ 1 năm học 1975-1976 Bầu Đ/c Nguyễn Đức Cảnh làm BT Đoàn trường cùng với các Đ/c Nguyễn Thị Mỹ Chinh – P. BT Đoàn trường, Thầy Phan Anh Tứ –BT chi đoàn giáo viên, em Trần Thị Liễu (bí thư lớp 9B), em Lý Ngọc Hùng (bí thư lớp 10A) là uỷ viên BCH đoàn trường đầu tiên

Đại hội công đoàn đầu tháng 12/1976 được tiến hành. Đại hội đã bầu thầy Nguyễn Văn Báu (GV ngoại ngữ) làm chủ tịch Công đoàn trường.

Tổ chức Hội cha mẹ học sinh nhà trường được hình thành. Hội đã bầu Bác Nguyễn Đình Liêm (ở Nghi phú) làm hội trưởng, Bác Mai Văn Phúc (ở Hưng bình) làm hội phó, bác Nguyễn Hữu Duệ (ở Hưng đông) làm uỷ viên

Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng, Ban giám hiệu, BCH Công đoàn, tập thể sư phạm của nhà trường đã đoàn kết, vững tin phấn khởi thi đua, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Công tác xây dung CSVC.

Song song với nhiệm vụ dạy và học, Chi bộ – Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo khẩn trương tập trung cho việc xây dựng cơ sở vật chất. Điểm xuất phát quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất là chọn địa điểm xây dung trường. Được sự ủng hộ, chỉ đạo của UBND Tỉnh, Ty giáo dục Nghệ Tĩnh, UBND Thành phố và Phòng giáo dục Vinh. Tập thể ban lãnh đạo và một số giáo viên, nhân viên có điều kiện ngoại giao như Thầy Phan Anh Tứ, Thầy Nguyễn Viết Hiền, Anh Chu Văn Kiều – Nhân viên hành chính tập trung vào việc xin cấp giấy phép cấp đất và tìm địa điểm xây dung trường. Qua thăm dò, tìm kiếm lúc đầu có ý định khu đất cũ của trường Huỳnh Thúc Kháng (một phần bây giờ là khách sạn Mường Thanh – Thanh Niên). Việc không thành, lại xin khu đất nhà Dòng gần nhà thờ cầu Rầm (Cửa Nam), rồi ở Hưng Đông. Nhưng cả 3 phương án trên đều không thành vì chưa hợp lý. Đang lúc bế tắc thì một sự tình cờ quý giá xuất hiện bên cạnh nhà thầy Nguyễn Viết Hiền có bác phụ huynh học sinh là ông Trần Hạnh (đang làm PCT xã Hưng bình, phụ trách về đất đai nông nghiệp) đã đồng ý nhường cho trường 2 ha để xây dung trường. Được UBND thành phố phê duyệt, nhà trường có địa điểm chính thức, nơi toạ lạc hiện nay của trường (năm 1977 là thuộc xã Hưng bình, nay thuộc phường Lê Lợi). Nơi đây lúc bấy giờ là vùng trũng, chỉ có 2 hộ dân ở phía ngoài đường Phan Bội Châu, phía sau là ruộng và đất hoang hoá. Tuy vậy bên phải trường lại có nhiều nhà máy, xí nghiệp, có điều kiện thuận lợi cho loại trường VH-VL theo hướng công nghiệp, nên được mọi người đồng thuận, ủng hộ. Vậy là đã có “mảnh đất cắm dùi”, lãnh đạo trường phấn khởi, khẩn trương, huy động mọi tiềm lực cho việc xây dựng trường. Với tinh thần đạp bằng mọi khó khăn gian khổ, với phương châm phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức, các lực lượng xã hội, bằng mọi cách để xây dựng xong trường trong thời gian nhanh nhất, để đưa học sinh về trường mới học sớm nhất. Vì thế thầy và trò trường C3 VH-VL Vinh vừa lo việc dạy – học, vừa lo xây dựng CSVC ban đầu. Một không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường, hình ảnh các thầy cô cùng các em học sinh khoá I (1975-1978), khoá II (1976-1979), khoá III (1977-1980), một buổi đi học, một buổi tham gia lao động san lấp mặt bằng, đào ao, đắp nền, đánh tranh, đánh vách, dựng nhà…. Hay những buổi lao động vận chuyển nguyên vật liệu, gỗ , tre, mét…. Từ bến sông Cửa Tiền về trường bằng sức mình là chính kết hợp với phương tiện thô sơ: xe kiên an, xe ba gác, xe đạp, gồng, gánh…… Những hình ảnh đó còn khắc sâu mãi trong tâm trí của các thầy, cô giáo cùng những thế hệ học sinh trong những năm đầu xây dựng trường. Đúng như trong bài thơ mà thầy Nguyễn Đức Cảnh đã viết:

“Là thầy giáo đứng trên bục giảng

Còn là người trát vách, đánh tranh”

Bằng tinh thần đoàn kết, nhất trí, sự nỗ lực của thầy và trò, chỉ trong một thời gian ngắn 2 dãy lớp học với 8 phòng và 2 dãy nhà ở cho giáo viên đã được dựng xong vào cuối năm 1977 (2 dãy lớp học – nay phía sau nhà đa chức năng – thuộc đất ở của các thầy cô bây giờ. Còn nhà ở giáo viên là đất khu tập thể giáo viên đang ở hiện nay)

Như vậy vào thời điểm học kỳ II của năm học 1977-1978, toàn bộ mọi hoạt động dạy và học của Trường đã chuyển từ C3 Vinh I về Trường cấp 3 vinh 2, chấm dứt tình trạng “3 nhờ”. Đồng thời trường được Ty giáo dục Nghệ Tĩnh ra quyết định chuyển từ mô hình VH-VL sang mô hình trường phổ thông và đổi tên trường từ Trường C3 VH-VL thành Trường C3 Vinh 2. Đây là sự kiện rất đáng ghi nhớ trong sự hình thành và phát triển của nhà trường. Từ mô hình trường VH-VL chuyển thành trường phổ thông. Việc dạy và học dần dần đi vào quỹ đạo của một trường phổ thông dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ty giáo dục Nghệ Tĩnh

Năm học 1977-1978 số lớp được tăng lên: 14 lớp. Số học sinh ngày càng đông, tạo cơ hội cho trường nhận thêm nhiều giáo viên mới. Với quan điểm tôn trọng hiền tài, với chính sách “chiêu hiền, đãi sỹ” của lãnh đạo đã thu hút được nhiều thầy cô giáo, có tên tuổi, “cây đa”, “cây đề” trong ngành giáo dục Tỉnh nhà tình nguyện về trường. Đây là động lực phát triển nhằm khắc phục phần nào sự yếu kém về chất lượng do tuyển sinh “bất bình đẳng” của 2 năm đầu để lại. Mặt khác cũng là bước tạo tiền đề để đầu tư cho mũi nhọn chất lượng của nhà trường.

Năm học 1977-1978 có thêm 23 CB, GV, CNVC tiếp tục về trường. Như vậy tới năm học này trường có 52 CBGV, CNVC. Trường học mới, lại được tăng cường đội ngũ giáo viên có năng lực, lòng yêu nghề, yêu trẻ, BGH nhà trường quyết định tập trung làm chất lượng; Đối với giáo viên, động viên các thầy cô trẻ tự học, tự nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, tích cực tham gia thi giáo viên giỏi Tỉnh do Sở tổ chức. Đối với học sinh, ngoài chú ý nâng cao chất lượng đại trà, tập trung thành lập các lớp mũi nhọn, bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi và chuẩn bị cho các em thi vào các trường đại học và cao đẳng. Từ định hướng đó mà lớp 8T, lớp chọn đầu tiên của trường đã ra đời do Thầy Phạm Văn Tuỳ – một giáo viên trẻ, nhiệt huyết, dạy toán có uy tín làm chủ nhiệm. Lớp 8T (niên khoá 1977-1980) với sĩ số: 37 em có học lực khá các môn Toán, Lý, Hoá do em Nguyễn Quang Tuấn làm lớp trưởng. Với hy vọng đây sẽ cho ra lò những học sinh C3 Vinh 2 đỗ đại học đầu tiên và là tốp học sinh giỏi đầu tiên của trường. Quả thật là như vậy số học sinh giỏi tỉnh đầu tiên như: Nguyễn Bá Hoàng, Nguyễn Văn Quế, Kiều Thị Huệ cũng từ lớp T này. Không phụ lòng mong mỏi của BGH, các thầy cô và gia đình, kết quả thi đại học năm 1980 đã có 13/37 em đậu, có 3 em đi học nước ngoài, năm sau (1981) lớp này lại có thêm 14 em nữa đậu đại học. Như vậy qua 2 kỳ thi đại học lớp T đã có 27/37 em đậu đại học, tuy chưa đậu 100% nhưng vào thời điểm đó quả là một kỳ tích, đáng tự hào, cần phải ghi nhận cho sự vượt khó vươn lên của thầy và trò trường C3 vinh 2, thắp sáng ngọn lửa truyền thống thi đua dạy và học của nhà trường.

Sau này trong số những học sinh lớp 8T, nhiều em đã trưởng thành trên bước đường sự nghiệp của mình như em: Nguyễn Quang Tuấn – lớp trưởng nay Phó giám đốc công ty xây dựng 2, em Nguyễn Bá Hoàng – tiến sỹ – trưởng khoa ĐH GTVT Hồ Chí Minh, em Nguyễn Văn Quế – giám đốc một xí nghiệp của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, em Ngô Xuân Hường – giảng viên ĐH hàng hải Việt Nam, em Nguyễn Viết Hải – Bác sỹ – trưởng khoa da liễu bệnh viện đa khoa Nghệ An. Thành quả ấy đã xoá đi những mặc cảm của một số người về trường VH-VL, tạo nên sự phấn chấn trong giáo viên – học sinh, đặc biệt là sự vững tin của phụ huynh đối với nhà trường, tạo đà cho trường vững bước trong những năm học tiếp theo.

Song song với học văn hoá, nhà trường tong bước dạy nghề và tổ chức lao động hướng nghiệp cho học sinh. Các lớp dạy nghề: Cơ khí, mộc, thêu, đan, may … được đặc biệt quan tâm. Các sản phẩm ban đầu của trường như: đinh, thùng tôn, nước giải khát, vôi, gạch.. Tuy giá trị kinh tế chưa nhiều, song đã chứng minh cho sự đúng đắn phương châm “Học đi đôi với hành”, trường học gắn liền với lao động sản xuất của một trường VH-VL ở một thành phố như thành phố Vinh

3) Những năm tiếp theo (1981 – 1985)

Sau những năm đầu mới thành lập trường đầy gian nan, vất vả cùng với đất nước, nhà trường cũng từng ngày trưởng thành, phát triển đi lên. Ngay những năm đầu của thập niên 80, cùng với công cuộc cải cách giáo dục của đất nước, lần thứ 1 (1981) ngày 31/12/1981 Trường cấp 3 Vinh 2 vinh dự được đổi tên thành Trường PTTH Hà Huy Tập – mang tên người cộng sản ưu tú của quê hương Nghệ Tĩnh – cố Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1935-1938.

Về xây dựng CSVC

Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự đóng góp nhiệt tình của phụ huynh học sinh. Tuy chưa thật khang trang đầy đủ song CSVC của trường từng bước được sửa chữa, nâng cấp, xoá dần các lớp tranh tre. Những năm này trường đã xây dựng được 6 dãy nhà với 24 phòng học bằng gạch, ngói, bàn ghế của giáo viên và học sinh cũng được gỗ hoá. Nhà trường đã xin được vốn xây dựng cơ bản, làm đsược một dãy nhà xưởng, xây gạch, lợp tôn khá vững chắc (Nay là phía trước bên phải dãy nhà 3 tầng) sớm đưa vào sử dụng dạy nghề – hướng nghiệp cho học sinh.

Về chất lượng đào tạo

Sau 5 năm thành lập, quy mô của trường ngày càng phát triển về lượng và chất. Từ 4 lớp với 200 học sinh trong năm học đầu tiên đã phát triển lên 12,18,24 lớp và đến năm học 1984-1985 đã có 36 lớp với 1.900 học sinh. Số giáo viên, CNVC cũng tăng dần theo số lớp. Trường đã có những bước đi vững chắc, số học sinh đậu tốt nghiệp hàng năm đạt 90 – 95%, có năm đạt 100% với 400-500 em ra trường.

- Số học sinh giỏi tỉnh ngày một thêm, số học sinh đậu đại học càng nhiều

+ Năm học 1980 – 1981 : có 10 em đậu đại học (có 3 em đi học nước ngoài)

+ Năm học 1981 – 1982 : Có 13 em đậu đại học ( có 2 em đi học nước ngoài)

+ Năm học 1982 – 1983 : Có 15 em đậu đại học ( có 3 em đi học nước ngoài)

+ Năm học 1983 – 1984 : Có 21 em đậu đại học ( có 6 em đi học nước ngoài)

+ Năm học 1984 – 1985 : Có 32 em đậu đại học ( có 2 em đi học nước ngoài)

Tuy con số này chưa lớn song trong hoàn cảnh đất nướ còn khó khăn, thời kỳ còn bao cấp thì đây quả là một sự nỗ lực đáng khâm phục, đáng tự hào của thầy và trò trường chúng ta.

Qua 10 năm phấn đấu và trưởng thành, trường THPT Hà Huy Tập đã đạt được nhiều thành tích trên các mặt, đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao. Nhiều thầy cô đã phấn đấu trở thành những giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh: Thầy Nguyễn Nhân, Thầy Võ Tuấn Tài, thầy Lê Duy Cát, thầy Chu Phú, thầy Phan Anh Tứ, thầy Thái Quốc Khánh, thầy Trần Văn Lộc, thầy Nguyễn Anh Kỳ, thầy Trần Xuân Cường, thầy Nguyễn Quốc Khánh, thầy Văn Đức Thuần, Cô Phan Thị Vĩ, thầy Nguyễn Sỹ Thanh, thầy Võ Văn Lạng, cô Nguyễn Thị Thu Hoài, Thầy Nguyễn Thiện Chính…

Tóm lại, Ra đời trong hoàn cảnh và đặc thù riêng đầy gian nan thử thách. Song dưới sự lãnh đạo năng động sáng suốt của Chi bộ Đảng, Ban giám hiệu và tinh thần đầu tàu xung kích của Đoàn thanh niên, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan hữu quan, của hội cha mẹ học sinh, thầy và trò trường C3 VH-VL – trường C3 Vinh 2 – Trường PTTH Hà Huy Tập đã đoàn kết trên dưới một lòng, vượt khó vươn lên, tự khẳng định mình. Với những thành tích đạt được đã tạo đà cho sự phát triển vững chắc của nhà trường trong giai đoạn tiếp theo.

II. Hai mươi lăm năm trưởng thành và phát triển (1985-2010)

Tóm tắt những thành tích của trường

- Về CSVC: Luôn được củng cố đến nay đã có đủ phòng học nhà cao tầng, các trang thiết bị được hiện đại hoá dần. Trường có đủ phòng bộ môn, thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học tiếng, phòng vi tính, nhà đa chức năng, có nhà làm việc của Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên….. hệ thống sân chơi, cây xanh, cổng, bờ rào…cảnh quan xanh, sạch. đẹp, trường học thân thiện, đảm bảo tiêu chí của trường chuẩn quốc gia.

+ Cho tới nay trường đã đào tạo được chục nghìn học sinh tốt nghiệp THPT và nghìn em đã đậu vào các trường đại học và cao đẳng. Nhiều em đã trở thành những nhà khao học, cán bộ quản lý của nhà nước. Hàng trăm em được công nhận học sinh giỏi Tỉnh và nhiều em đạt học sinh giỏi Quốc gia: Trường đã có 4 thầy cô được nhà nước phong tặng Nhà giáo ưu tú: 1. Thầy Đinh Quang Minh- Nguyên là Hiệu trưởng, 2. Thầy Hoàng Kim Long- Tổ trưởng tổ toán, 3. Thầy Phạm Dũng Tiến- Hiệu trưởng nhà trường, 4. Cô Nguyễn Thị Xuân Hoa- Giáo viên Lịch sử

Năm học 2010 – 2011: Trường có 39 lớp với 1800 em học sinh., 44 thạc sỹ chiếm 44% và đang theo học 6 Đ/c, 39/92 trực tiếp đứng lớp ~ 40.6% giáo viên từng đạt giáo viên giỏi Tỉnh. Chi bộ có 47 đảng viên.

Kết quả khen thưởng

1. Từ năm 1999 trở về trước

Nhiều năm được công nhận là Trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, được tặng bằng khen của Bộ giáo dục, của UBND tỉnh và nhiều giấy khen của Sở Giáo dục và Đào tạo

2. Từ năm học 1999 – 2000 đến năm học 2009-2010

- 5 năm liền đạt Trường tiên tiến xuất sắc

- Được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng ba (1999)

- Được Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen (2000)

- Được UBND Tỉnh tặng Cờ thi đua xuất sắc (1999-2000)

- Được Bộ Giáo dục tặng Bằng khen (2001)

- Được Bộ Công an tặng Bằng khen (2001)

- Được Bộ Giáo dục tặng Cờ thi đua đơn vị xuất sắc (2003)

- Được UBND Tỉnh tặng 6 Bằng khen

- Được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng 2 (2004)

- Được Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen (2007)

- Được công nhận Trường Chuẩn Quốc gia (6/2009)

- Liên tục đạt danh hiệu Chi bộ Đảng trong sạch, vững mạnh

- Liên tục là Công đoàn vững mạnh xuất sắc; được tặng nhiều Bằng khen các cấp.

- Liên tục là Đoàn trường tiên tiến xuất sắc, được TW đoàn tặng 3 bằng khen

Nhìn lại chặng đường 36 năm qua đầy gian nan thử thách, nhưng nhà trường đã lập được nhiều thành tích rực rỡ để hôm nay xứng đáng vào tốt đầu của khối THPT không chuyên trong toàn tỉnh. Để có được những thành tích ấy Nhà trường rất biết ơn sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh, Sở Giáo dục , UBND thành phố Vinh và các cở quan hữu quan. Nhà trường tự hào về sự nỗ lực hết mình của các thế hệ lãnh đạo, các tổ chức, đội ngũ giáo viên, học sinh, phụ huynh đã phấn đấu không hề mệt mỏi để trường cấp 3 Vinh 2- THPT Hà Huy Tập có được như ngày hôm nay. Biết tằng đã có nhiều cố gắng những nét đẹp về thành tựu của nhà trường, cá nhân có thể chưa được thu thập và ghi nhận đầy đủ, nhà trường mong các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, phụ huynh tiếp tục góp ý bổ sung để cho trang sử của nhà trường được hoàn thiện hơn. Hướng tới tương lai, Chi bộ, BGH, BGHCĐ các tổ chức nhà trường cùng toàn thể đội ngũ CBGV, CNV, HS, PH quyết tâm phấn đấu không ngừng, lập được nhiều thành tích cao nhất để Trường THPT Hà Huy Tập xứng đáng là địa chỉ Đỏ của ngành giáo dục Tỉnh nhà trong những chặng đường tiếp theo./,


See More